Hoàng Đế Quang Trung - Bí ẩn cuộc đời một thiên tài

Hoàng Đế Quang Trung, cuộc đời oai hùng, vị vua dám uy hiếp cả vua Thanh Càn Long. Ông có biệt tài quân sự hiếm gặp trên thế giới. Cuộc đời chinh chiến trên Sa trường, cho đến ngày về với tổ tiên, ông chưa thua một trận đánh nào. Đó là vị Hoàng Đế bách chiến bách thắng trong lịch sử Việt Nam với lối đánh tấn công, thần tốc, áp đảo quân thù , luôn dành thế chủ động, ông được ví với Thành Cát Tư Hãn, Napoleon Alexandro đại đế,...

NHỮNG BÍ ẨN KỲ DIỆU VỀ HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG

Hoàng Đế Quang Trung - Nguyễn Huệ hay Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ là vị vua thứ 2 của nhà Tây Sơn- Một thiên tài quân sự Kiệt xuất, một nhà chính trị khôn ngoan, mưu lược, ...

Nguyễn Huệ sinh năm 1753 ở thôn Tây Sơn, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, ngày nay thuộc Làng Kiên Mĩ, Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông mất năm 1792 tại Phú Xuân. Cuộc đời chinh chiến từ năm 18 tuổi oai hùng lẫm liệt đánh nam, dẹp bắc suốt 20 năm, lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Quang Trung năm 36 tuổi, trị quốc 3 năm, hoàng đế Quang Trung qua đời ở tuổi 39 khi sự nghiệp còn dang dở, những kế hoạch lớn lao chưa hoàn thành. Cái chết bí ẩn của Hoàng Đế Quang Trung để lại bao nỗi tiếc thương cho con dân Việt, và những nối tiếc của dân tộc. Cái chết của vua Quang Trung là một bí mật to lớn của lịch sử mà đến nay người đời vẫn chưa tìm được lời giải đáp. Sự thật về câu chuyện tại sao Vua Quang Trung chết đã vĩnh viễn theo nhân vật chính xuống nơi suối vàng, chỉ còn lại lời suy đoán của các nhà nghiên cứu hoặc thắc mắc của chúng ta mà thôi.

Nguyễn Huệ là nhân vật chủ chốt của cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn lật đổ Chúa Nguyễn ở đàng trong, ông cùng các anh em mình là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ được dân chúng thời bấy giờ gọi là anh em nhà Tây Sơn, đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân duy nhất trong lịch sử Việt Nam thành công và lập lên một Triều Đại Quân Chủ, chấm dứt hơn 200 năm nội chiến đẫm máu giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn, phân tranh gây chia cắt hai miền đất nước  ( qua dòng sông Gianh) đánh bại nhà Hậu Lê và các cuộc xâm lược của quân Xiêm La từ phía Nam, quân Đại Thanh từ phía Bắc.

Tổ tiên của Nguyễn Huệ họ Hồ ở làng Hưng Cái, huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An, dòng dõi Hồ Quý Ly ở đàng ngoài. Ông tổ Nguyễn Huệ theo chân các chúa Nguyễn di dân vào nam khai hoang, và đổi luôn họ Hồ thành họ Nguyễn. Cha Nguyễn Huệ là ông Hồ Phi Phúc, (Nguyễn Phi Phúc ) mẹ là Nguyễn Thị Đồng, con của một gia đình giàu có tại làng Kiên Mỹ, Tây Sơn.

Thuở nhỏ ba anh em Tây Sơn được gửi theo học tại nhà thầy giáo Trương Văn Hiến, một thầy giáo nổi tiếng xứ Bắc Hà chạy vào nam lánh nạn, sau khi thầy của ông là Trương Văn Hạnh bị quyền thần Trương Phúc Loan hãm hại.

Chính thầy giáo Hiến là người phát hiện tài năng xuất chúng của Nguyễn Huệ và khuyên ba anh em đứng lên khởi nghĩa xây dựng cơ đồ đại nghiệp.

Ba anh em nhà Tây Sơn đều rất tinh thông võ nghệ, đã có công khai sáng một số phái Võ Bình Định. Nguyễn Huệ khai sáng Yến Phi Quyền, Nguyễn Lữ Hùng Kê Quyền và cả ba anh em cùng sáng tạo Lộc Như Hương và nhiều bài binh khí truyền dạy cho ba quân, làm nên tinh hoa Võ Bình Định, lưu truyền khắp thiên hạ. Ngày nay Võ Bình Định vẫn nổi tiếng trong cả nước và trên toàn thế giới. Cứ 2 năm một lần, vào năm chẵn thế giới anh hùng võ cổ truyền lại tụ hội tại Bình Định trong 3 ngày LIÊN HOAN QUỐC TẾ VÕ CỔ TRUYỀN BÌNH ĐỊNH để tôn vinh tinh hoa Võ Bình Định và tưởng nhớ công lao anh em nhà Tây Sơn và vị hoàng đế vĩ đại của mình.

Nguyễn Huệ là bậc kỳ tài về luyện binh và dụng binh thần tốc. Ông làm cho loài người rùng mình kinh ngạc về khả năng hành quân nhanh như tên bay của quân đội ông. Thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần. Vào trận chiến binh lính Tây Sơn là Cảm Tử Quân lao lên phía giặc. Quang Trung luôn cưỡi voi đi đầu để quân lính theo sau. Khi xung trận quân Tây Sơn mang theo trống trận, tiếng trống thúc dục quân lính xông lên và uy hiếp tinh thần chiến đấu của quân thù. Bài Trống chỉ có hồi Xuất Quân – Xung Trận – Ca khúc Khải Hoàn. Đặc biệt không có hồi Thu Quân. Trống Trận Tây Sơn đã cài đặt sãn trong tâm trí tướng sĩ Tây Sơn ra trận là Quyết Tử, chỉ có tiến không có lui.

Nguyễn Huệ người đậm, da sần, tóc xoăn, mắt sáng như hai tia chớp, tiếng nói sang sảng như chuông ngân, ông nhanh nhẹn, hoạt bát. Trong sách Tây Sơn Thuật Lược miêu tả về đôi mắt Huệ như sau: “ Ban đêm khi ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu,...”

Nguyễn Huệ là vị Vua có nhiều tên gọi nhất trong lịch sử Việt Nam: Hồ Thơm, Nguyễn văn Thơm, Ba Thơm, Tám Thơm, Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Văn Bình, nhưng tên được nhiều người gọi nhất là Nguyễn Huệ

NGUYỄN HUỆ - NHÀ CÁCH MẠNG THỜI PHONG KIẾN

Nguyễn Huệ, một người nông dân bình thường trước khi khởi nghiệp , nhưng ý chí và tài năng của ông lại phi thường. Sống trong thời đại phong kiến với ý thức hệ phong kiến là Tam cương: Quân - Thần; Phu - Phụ và Phụ - Tử thì đạo Vua - Tôi là cao nhất. Ðạo này xây dựng trên quan niệm thần quyền, coi vua là con Trời, thay Trời trị nước, trị dân, là Thiên Tử. Quyền cai trị này đương nhiên là cha truyền con nối: “Con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” Thần dân có bổn phận phục tùng và trung thành với vua, coi vua là biểu tượng quốc gia, trung thành với vua là yêu nước “Trung quân ái quốc”, chống lại Vua là phản nghịch. Một trung thần Vua bảo chết là phải chết, nếu không là bất trung  “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”... Nguyễn Huệ đã dám đương đầu đứng lên chống lại cường quyền.

Nguyễn Huệ quả là một nhà cách mạng của thời đại phong kiến. Cuộc cách mạng của Nguyễn Huệ đã thành công vì có chính nghĩa “chống ngoại xâm”,  được nhân dân và nhiều anh tài tụ nghĩa. Chính nhờ chính nghĩa mà việc lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ trở thành chính danh, mở ra một triều đại mới trong lịch sử Việt Nam, Triều đại Nhà Tây Sơn. Về điểm này, sử gia Trần Trọng Kim, sau khi ghi lại việc vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái hậu cầu cứu quân Thanh và mật dụ của nhà Thanh nhân cơ hội này cướp nước ta, ông viết: "... Vậy nước đã mất, thì phải lấy lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng Ðế, truyền hịch đi khắp nơi, đường đường chính chính, đem quân ra đánh một trận phá 29 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy..." và ông kết luận "Vả đánh đuổi người Tàu đi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo?"

 Nguyễn Huệ Là nhà chính trị, tâm lý kiệt xuất. Dựa vào đức tin của con người ông đã tạo nên nhưng câu chuyện thần kỳ giúp sức cho sự nghiệp của mình được muôn dân tín nhiệm như là người nhận lệnh Trời lo cho muôn dân vậy.

CÂU CHUYỆN CHỮ HIỆN TRÊN LÁ CÂY VỚI ĐIỀM BÁO

Thời ba anh em Tây Sơn mới dựng cờ khởi nghĩa xảy ra chuyện lạ, khi người dân vào rừng lấy củi thì thấy trên tất cả các lá cây đều có chữ: “ Nguyễn Nhạc vi vương, Nguyễn Huệ vi tướng” ai cũng cho là chuyện lạ này có điềm báo về một minh chúa xuất hiện. Họ ai nấy vui mừng và lan truyền khắp thiên hạ. Thật ra đây là ý đồ của Nguyễn Huệ tạo ra những điềm báo thần kì để lấy niềm tin của người dân, chiêu dụ binh sĩ xây dựng lực lượng lớn mạnh cho mình. Ông cho lấy mỡ viết lên lá để cho kiến ăn tạo thành chữ. Cho đến bây giờ vẫn còn lưu truyền câu ca “ Nguyễn Nhạc vi vương, Nguyễn Huệ vi tướng, kiến trổ lá rừng, trời trao gươm báu”.  Nguyễn Huệ còn sai thuộc hạ thân tín khắc vào các cây cổ thụ tám chữ ấy ngày nay vẫn còn lưu truyền “ Ai vô rừng cấm thấy tấm biển đề, Nguyễn Nhạc vi vương, Nguyễn Huệ vi tướng, đồn đại bốn phương, Tây Sơn khởi nghĩa”

CHUYỆN RỒNG BƠI TRÊN SÔNG

Thuở nhỏ Nguyễn Huệ rất cứng đầu, hiếu động thường dẫn đầu bọn trẻ con chăn trâu dưới đồng,  rồi kéo nhau lên nguồn hái ổi, bắt chim sau đó kéo xuống vực bơi lội, tắm táp. Nhưng lạ thay mỗi lần Nguyễn Huệ vùng vẫy dưới nước và bơi ra sâu thì bọn trẻ con lại thấy một con rồng nước từ từ dưới vực sâu ngoi lên bơi theo sau để bảo vệ. Khi Nguyễn Huệ bơi lên bờ thì con rồng lại lặn về nơi đáy vực mất hút. Như một chân mệnh thiên tử.

TRỜI BAN ẤN VÀNG, KIẾM BẠC:

Tương truyền vùng thượng nguồn An Khê, nay thuộc địa bàn sinh sống của người Ba Na. Có một thanh gươm thần cắm sâu vào tảng đá lớn đã nhiều đời không có ai đủ sức để rút thanh kiếm ấy ra. Người dân tin rằng thanh gươm đó do trời ban xuống để tìm hiền tài trong thiên hạ, người đủ sức mạnh dũng khí và sự tài trí  mới có thể lấy được thanh gươm ra. Một hôm Nguyễn Huệ trên đường đi chiêu mộ  hiền tài để mưu việc lớn, tình cờ đi qua vùng này, thấy vị khách phương xa tướng mạo phi thường, ăn nói dễ mến cho nên dân trong vùng đưa  đến nơi có thanh gươm, lạ thay khi Nguyễn Huệ vừa cho tay vào ướm rồi nhẹ nhàng rút thanh gươm ra, tảng đá vỡ tan dễ dàng, lộ ra thanh gươm sáng lòa. Người dân ai nấy kinh ngạc. Họ mở tiệc thiết đại vị anh hùng. Họ chọn con gà đã được trăm tuổi để xẻ thịt và vô tình phát hiện trong người con gà có một cái ấn lớn, bèn dâng lên cho Nguyễn Huệ. Cầm kiếm và ấn do trời ban Nguyễn Huệ đứng giữa buôn làng tuyên bố: “ Đã nhận được sứ mệnh  của Trời ta quyết không phụ lòng thiên hạ”. Từ đó ông ra sức xây dựng lực lượng, chiêu binh mãi mã thành những đội quân thần tốc trong lịch sử dân tộc

RẮN LỚN DÂNG KIẾM QUÝ

Trong Tây Sơn thập thần vũ khí, thì không thể không nhắc đến cây thần đao của Nguyễn Huệ với tên gọi Ô Long Đao, Huỳnh Long Đao của Trần Quang Diệu, Xích Long Đao của Lê Sĩ Hoàng được  gọi là Tây Sơn Tam Thần Đao đã theo ông chinh chiến khắp chiến trường Nam – Bắc. Đao có trọng lượng rất nặng, phải hai ba người vác mới nổi, khi rút ra thì toát ra khí lạnh rợn người. Nguyễn Huệ có được cây đao này cũng rất lạ, khi đi qua đèo An Khê bỗng có hai con rắn to lớn đón đường dâng lên đao quý. Ông đã cho lập một ngôi miếu để thờ hai con rắn kia gọi là Miếu Xà, còn đoạn đường hai con hai con rắn bò ra gọi là dốc Ông Dài nghĩa là con rắn lớn.

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG – MỘT THIÊN TÀI QUÂN SỰ,  CHÍNH TRỊ 

Sinh ra và lớn lên từ người nông dân áo vải, chưa từng được đào tạo từ một trường quân sự hay kinh nghiệm nơi chiến trường, nhưng Nguyễn Huệ lại là người mưu lược, thu phục nhân tâm, tạo sự chính đáng cho việc xưng Vương, cai trị muôn dân. Về điểm này, sử gia Trần Trọng Kim, sau khi ghi lại việc vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái hậu cầu cứu quân Thanh và mật dụ của nhà Thanh nhân cơ hội này cướp nước ta, ông viết:"... Vậy nước đã mất, thì phải lấy lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng Ðế, truyền hịch đi khắp nơi, đường đường chính chính, đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm liệt như vậy..." và ông kết luận "Vả đánh đuổi người Tàu đi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo?"

Quân Tây Sơn hành quân thần tốc như bay, quân đi như gió, hàng động chớp nhoáng  như bốc hơi,... đó là những lời được ví von khi nói về Quang Trung.

  • 18 tuổi, rất trẻ đã trở thành tướng lĩnh Tây Sơn, một trong ba vị lãnh tụ kiệt xuất của nghĩa quân Tây Sơn.
  • 22 tuổi đã chỉ huy những trận đánh lớn, có tính chất quyết định đến toàn cục cuộc chiến.
  • 29 tuổi đánh bật người Pháp và Bồ Đào Nha khi tấn công bằng đường Thủy vào nước ta theo sự cầu cứu của Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ dùng súng trường của phương Tây để chống lại Phương Tây.
  • 32 tuổi, Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy trận đánh lớn trên sông Rạch Gầm Xoài Mút với quân Xiêm – Nguyễn ( Nguyễn ở đây là Nguyễn Ánh cầu viện ngoại bang )
  • 33 tuổi Nguyễn Huệ mang về 4 chiến thắng ở Đằng Trong và 2 chiến thắng ở Đàng Ngoài, ông kết thúc hơn 200 năm nội chiến giữa hai thế lực Trịnh – Nguyễn.
  • 36 tuổi đại phá quân Mãn Thanh, làm nên chiến thắng trấn động toàn cầu. Đất nước từ nhiều mảnh chia cắt được thống nhất thành một hình hài như ngày hôm nay.
  • Nguyễn Huệ không chỉ tài  thiên bẩm về quân sự, đặt biệt ông biết sử dụng người hiền tài, mang trái tim nhân nghĩa to lớn để trị quốc, xây dựng đất nước.

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG  VÀ VUA CÀN LONG NHƯ THẾ NÀO?

Dù là Hoàng Đế của một nước rất nhỏ so với Trung Hoa, nhưng Hoàng Đế Quang Trung là một Hoàng Đế dũng mãnh, không khiếp nhược. Thậm chí ông còn uy hiếp tinh thần Vua Thanh Càn Long.

Trong mối quan hệ với nhà Thanh ông luôn ở tư thế vững vàng của người chiến thắng không vì Trung Quốc nước lớn mà khiếp sợ, khuyên vua Thanh nên nghe theo mệnh trời là nước Nam đã có vua Nam ở.

          Vua Quang Trung với ý định đòi lại vùng đất Lưỡng Quảng Lưỡng Quảng, một vùng đất Việt cổ mà bao gồm tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và tỉnh Hải Nam của Trung Quốc  và cầu hôn công chúa nhà Thanh, nhưng lại mất đột ngột liệu có liên quan gì đến vua Càn Long hay không đến nay vẫn là một nghi vấn của lịch sử.

          Lời hẹn xây dựng đất nước giàu mạnh thì không còn phải e ngại, thậm chí nếu bất hòa ông sẽ mang quân sang tấn công, và ông đã không nói suông khi dâng biểu đòi hai vùng đất lưỡng Quảng, chọc giận vua Thanh để lấy cớ khởi binh vì ông luôn ấm ức phần đất đai bị người Phương Bắc lấn chiếm ở các triều đại trước và quyết tâm giành lại bằng sức mạnh quân sự.

          Ông Sử dụng các lực lượng đối kháng trong lòng quân Thanh đế quấy nhiễu chính nội bộ của đối phương.

BÍ MẬT VỀ Ô LONG ĐAO CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG

Ai cũng biết Quang Trung là người tinh thông võ nghệ, đặc biệt là sở trường dùng Đao, ông luyện đến mức kẻ thù nhìn thấy từ xa cũng phải khiếp sợ. Người dùng đao giỏi thường là những tướng tài kiệt xuất vì Đao thường được ví như Nguyên Soái của Trăm Quân.

Cuộc đời Hoàng Đế Quang Trung gắn liền với cây Đao gọi là Ô Long Đao, đầy huyền bí, tương truyền được rắn thần ban cho.

Kỹ thuật dùng Đao là dùng tay phải cầm chắc tấn công phòng thủ, chủ yếu là Chém, Mổ, Miết, Khuê, Xoay, Gác, Kéo, Đẩy,... Các loại Đao pháp tất cả đều tập trung ở Lưỡi Đao. Khi di chuyển Đại Đao là một Đao di chuyển rộng và chém bổ mạnh.

Thanh Ô Long Đao cán bằng gỗ mun đen láy, lưỡi Đao làm bằng một kim khí màu đen, khi Đao ra khỏi vỏ thì  khí lạnh toát lên rợn người trên diện rộng, sắc bén, nặng phải hai ba người vác mới nổi. Thanh Ô Long Đao đã theo Quang Trung đến cuối cuộc đời, ông nổi bật trong hình ảnh cưỡi ngựa, vác đao uy dũng tiến lên phía trước đi đầu để làm gương cho quân lính theo sau, khác với các tướng luôn có đội quân tiên phong lên trước và có hàng phòng thủ nghiêm ngặt. Các chiêu thức sử dụng Ô Long Đao của Quang Trung còn là bí mật không được lưu truyền.

CHUYỆN TÌNH LỊCH SỬ CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG VÀ NGỌC HÂN CÔNG CHÚA

Cuộc đời Hoàng Đế Quang Trung tuy không trường thọ, nhưng là một cuộc đời Lẫm Liệt màu đầy màu sắc huyền thoại pha lẫn chút bi thương.

Mối tình giữa Hoàng Đế Quang Trung với Ngọc Hân Công Chúa, con gái vua Lê Hiển Tông lúc đầu mang màu sắc chính trị của cả hai, nhưng sau đó lại là một mối tình đẹp giữa Trai Anh Hùng, Gái Thuyền Quyên.

Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần 1770 tại kinh thành Thăng Long. Bà là công chúa thứ 21 trong số của 23 người con gái của vua Lê Hiển Tông. Mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, nổi tiếng gái đẹp.

Theo lời truyền tụng thì công chúa Ngọc Hân thông minh từ bé, diện mạo thanh tú, xinh xắn, bản tính thùy mị, dịu dàng. Chưa đầy 10 tuổi, công chúa chẳng những đã giỏi cầm, kỳ, thi, họa mà còn thuộc làu kinh điển, thông thạo âm luật, giỏi thơ văn cả Hán lẫn Nôm. Càng lớn, công chúa càng xinh đẹp, nết na, duyên dáng, đức hạnh, được tiếng thơm khắp hoàng cung.

Trước sự suy yếu của triều đình nhà Lê, với sức mạnh của quân Tây Sơn, vua Lê theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ để mối quan hệ giữa hai bên bớt căng thẳng. Từ cuộc hôn nhân này, tình cảm giữa Nguyễn Huệ với nhà Lê sẽ gắn bó, ràng buộc hơn.

 

Năm đó công chúa Ngọc Hân vừa tròn 16 tuổi. Lễ cưới được tổ chức linh đình vào ngày 11 tháng 7 năm Bính Ngọ, nhằm ngày 4/8/1786. Nguyễn Huệ đã cử hành nghi lễ rước dâu rất long trọng, cho quân lính đứng xếp hàng hai bên từ cung điện đến tận cửa phủ riêng của mình bên bờ sông Nhị. Chú rể ngồi kiệu rồng vàng ra đón, hết thảy mọi nghi lễ đều đúng lệ. Tiệc rượu linh đình được tổ chức chiêu đãi hoàng tộc và các quan văn võ trong triều. Hôm ấy, trai gái trong kinh thành hay tin rủ nhau đi xem đông như ngày hội. Ai cũng cho là việc hiếm có xưa nay.

Qua quá trình sống bên chồng, Ngọc Hân đã chiếm trọn niềm tin, tình yêu của người anh hùng. Với sự dịu dàng, trong sáng và cách cư xử nền nếp gia giáo rất đặc trưng của phụ nữ Bắc Hà xưa, Ngọc Hân đã chinh phục hoàn toàn người đàn ông dũng mãnh. Nguyễn Huệ tôn trọng, nâng niu, luôn hỏi ý kiến Ngọc Hân về những ứng xử cần thiết với triều đình nhà Lê.

Có thể nói, Ngọc Hân đã làm tròn sứ mệnh lịch sử: Là gạch nối giữa triều đình nhà Lê với nghĩa quân Tây Sơn.

Tháng 8 năm 1786, Nguyễn Huệ đưa Ngọc Hân về Phú Xuân. Bà ở Hữu cung, cùng Tả cung Hoàng hậu Phạm Thị Liên. Bà thường giảng giải kinh sách cho con em trong hoàng gia, giúp hoàn thiện các nghi lễ trong nội cung.

Với bản tính khiêm nhường, hòa nhã, bà nhanh chóng nhận được sự cảm mến của mọi người. Nguyễn Huệ  biết Phú Xuân là nơi xa lạ với Ngọc Hân nên ông luôn yêu thương che chở cho bà.

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ 2 trị tội Võ Văn Nhậm chuyên quyền. Cùng với đoàn tùy tùng 150 thớt voi, 100 võng cáng là hai chiếc kiệu sơn son thiếp vàng để Ngọc Hân sánh vai cùng Bắc Bình Vương về thăm Thăng Long, Ngọc Hân rạng ngời hạnh phúc.

Năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Năm 1790, Ngọc Hân được phong là Bắc cung Hoàng hậu. Bà sinh hạ hai người con với Nguyễn Huệ là công chúa Nguyễn Thị Ngọc và hoàng tử Nguyễn Quang Đức khỏe mạnh, đáng yêu.

Xinh đẹp, nết na lại có tài, Bắc cung Hoàng hậu được nhà vua tin yêu, sống trong say đắm. Trong thực tế, Ngọc Hân còn trở thành người hỗ trợ đắc lực, tin cẩn về lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khuyên giải chồng nhiều việc hệ trọng khác trong triều chính ở Phú Xuân. Một số biểu văn thời Tây Sơn còn ghi lại đã ít nhiều minh chứng cho điều này.

Cuộc tình say đắm của Quang Trung và Ngọc Hân mới được 6 năm, thì năm 1792, hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà. Cái chết của Quang Trung khiến Ngọc Hân suy sụp. Trong những ngày đau thương, Ngọc Hân dồn hết tình cảm của mình vào khúc ngâm Ai Tư Vãn. 

Ai Tư Vãn gồm 14 câu thơ theo thể song thất lục bát để Khóc Chồng, bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn người chồng anh hùng, vắn số.

Trong bài thơ này, hình ảnh Nguyễn Huệ hiện lên không chỉ với tư cách người anh hùng mà trước hết và trên hết là những mối quan hệ riêng, tình vợ chồng. Khi chồng bị bạo bệnh, Ngọc Hân đã hết lòng chăm sóc chồng:

“Từ nắng hạ mưa thu trái tiết

Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên

Xiết bao kinh sợ lo phiền

 Miếu thần đã đảo thuốc tiên lại cầu

 Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước

Phương pháp nào đổi được cùng chăng?”.

Với Ai tư vãn, Ngọc Hân đã đóng góp vào kho tàng văn học chữ Nôm một áng văn đẹp não nùng. Ai Tư Vãn xứng đáng sánh ngang hàng với khúc ngâm Cung oán, Chinh phụ nổi tiếng trong thành tựu văn học Việt Nam thế kỷ XVIII.

Quang Trung mất, Hoàng Chính Hậu Phạm Thị Liên cũng qua đời. Ngọc Hân khi đó mới 22 tuổi xin đưa các con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền để thờ chồng nuôi con. Ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4/12/1799), Hoàng hậu Ngọc Hân qua đời khi mới 29 tuổi.

Là một Hoàng Hậu đoan chính, tài giỏi, nhưng những bi thương đối với cuộc đời Lê Ngọc Hân không dừng lại kể cả khi bà đã mất. Năm 1802, Phú Xuân thất thủ, hai con bà cũng bị hại. Mẹ bà xót thương con cháu mồ hoang không người hương khói đã bất chấp hiểm nguy, nhờ một viên Đô đốc nhà Tây Sơn cũ bí mật đem hài cốt của 3 mẹ con Ngọc Hân xuống thuyền vượt biển về quê ngoại.

Mẹ bà ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại tên để làm mất dấu tích. Tuy nhiên đến đời vua Thiệu Trị, sự việc bị phát giác, triều đình phái người trị tội. Miếu thờ bị đập phá, phần mộ 3 mẹ con Ngọc Hân bị quật lên, hài cốt đưa xuống thuyền rồi đem đổ xuống sông Dâu.

Tương truyền, hài cốt Ngọc Hân trôi ra sông Hồng, đến ghềnh ở làng Lâm Hạ, xã Phú Viên, huyện Gia Lâm (Hà Nội) thì dừng lại. Người dân rước vào bãi sông chôn kỹ rồi lập đền thờ bên trên. Để che giấu, đền thờ Ngọc Hân được gọi là đền Mẫu, ngày nay đó chính là đền Ghềnh.

NHỮNG NGƯỜI VỢ CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG

Hoàng Đế Quang Trung xuất hiện như ngôi sao băng vụt qua bầu trời tăm tối của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 18. Ông là một tài năng phi thường, nên cuộc sống tình cảm của ông cũng phi thường.

Chính Cung Hoàng Hậu Phạm Thị Liên, người đã kết tóc se tơ với Hoàng Đế Quang Trung từ thuở hàn vi. Sách sử không nói rõ Nguyễn Huệ lập gia đình khi nào, nhưng trong những năm tháng chinh chiến đánh Nam dẹp Bắc, Nguyễn Huệ đã có một bà vợ họ Phạm quê ở Quy Nhơn. Bà kết duyên cùng Nguyễn Huệ năm 16 tuổi, năm 30 tuổi 1789, bà được phong làm Chính Cung Hoàng Hậu. Bà kém Nguyễn Huệ khoảng chừng 5 – 6 tuổi. Chính Cung Hoàng Hậu đã có với Nguyễn Huệ  5 mặt con, 3 trai 2 gái. Một trong 3 người con trai được lập thái tử là Nguyễn Quang Toản,  về sau kế tục sự nghiệp của vua Quang Trung nhưng không lấy gì làm xuất sắc.

Chính Cung Hoàng Hậu Phạm Thị Liên - một người phụ nữ thôn dã hiền lành, không thuộc người nghiêng nước, nghiêng thành, đã gắn bó với Nguyễn Huệ trong những chặng đường chinh chiến sa trường nên Nguyễn Huệ rất mực quý trọng, yêu thương. Năm 1791, sau một cơn bạo bệnh hiểm nghèo, bà đã từ trần vào ngày 29-3-1791. Nhà Vua vô cùng thương tiếc, cho ướp xác bà đến 3 tháng mới chôn ở dưới chân núi Kim Phụng, phía Tây TP. Huế. Vua Quang Trung đã cử hành tang lễ vô cùng linh đình, trang trọng cho bà, nhà vua đã khóc một cách sầu thảm vì thương tiếc người bạn đời đã từng trải qua bao gian khổ, vinh quang  với mình.

Người được nối ngôi là Nguyễn Quang Toản tức vua Cảnh Thịnh con của Bà Chính Cung Hoàng Hậu Phạm Thị Liên năm 13 tuổi cho dù tài đức thua kém so với Nguyễn Quang Thùy , con trai đầu lòng của Vua Quang Trung.

Hoàng Hậu Bùi Thị Nhạn:

Bà là em cùng mẹ khác cha của chính Cung Hoàng Hậu Phạm Thị Liên, bà là tướng lĩnh trong Ngũ Phụng Thư của Nhà Tây Sơn. Sau khi bà Phạm Thị Liên mất, bà Bùi Thị Nhạn được triệu vào cung phong làm Hoàng Hậu, là người võ nghệ cao siêu nhưng bà học võ để tự vệ chứ không vì tạo dựng nghiệp lớn, nên khi lập gia đình bà giải ngũ về hậu cung làm hậu phương cho Quang Trung. Khi Nhà Tây Sơn thất thủ, bà đã tham chiến và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng rồi tự sát để bảo vệ danh tiết.

Ngoài những bà vợ kể trên Quang Trung còn có 3 bà phi.

Có lẽ một trong 3 bà là mẹ của Nguyễn Quang Thùy. Quang Thuỳ lớn hơn Quang Toản, nhưng không phải là con của Phạm hoàng hậu và cũng không phải là con của Ngọc Hân công chúa. Vậy ai là mẹ của Nguyễn Quang Thuỳ và tại sao bà này lại không được phong làm hoàng hậu cũng còn là một bí mật.

Bà Trần Thị Quỵ người Quảng Nam, Không rõ bà Trần Thị Quỵ được Nguyễn Huệ chọn làm thứ phi năm nào và có con với ông hay không? Tương truyền, trong những ngày Tây Sơn thất thế, bà bị quân của Nguyễn Ánh bắt được đưa lên bãi cát Kim Bồng chém đầu rồi thả trôi sông. Thi hài của bà được nhân dân bí mật vớt lên khâm liệm và mai táng cẩn thận ở cánh đồng thuộc xứ Trà Quân, làng Thanh Đông, Quảng Nam.

Bà phi họ Lê người Quãng Ngãi: Bà này có một con trai với vua Quang Trung, cuộc đời của bà và vị hoàng tử đó đến nay vẫn còn mịt mờ, không rõ bà được chọn làm phi trong khoảng thời gian nào?  Và bà phi họ Lê này có phải  là mẹ của Nguyễn Quang Thuỳ hay không?

Bà Nguyễn Thị Bích người Quảng Trị: Bà là con gái út thứ 16 của viên quan nhỏ vào mạt kỳ thời Chúa Nguyễn ở Phú Xuân. Bà cũng có một con trai với vua Quang Trung. Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, bà trốn về Vĩnh Ân, nay thuộc xã Cát Hanh, huyện Phù Cát tỉnh Bình Định để nương thân, lúc chết được chôn ở gò Thỏ, Vĩnh Ân.

Ngoài hai bà Chính Cung Hoàng Hậu và các bà vợ kể trên, vua Quang Trung còn dự định cầu hôn với công chúa nhà Thanh, nhưng việc không thành vì ông qua đời đột ngột. Cái chết của vua Quang Trung mãi mãi còn là một nghi án lịch sử.

Quang Trung mất đi, để lại sự nghiệp dở dang và số phận của những bà vợ, những người con của ông hết sức bi thảm, họ bị Nguyễn Ánh tận diệt một cách tàn bạo hòng xoá sạch những gì liên quan tới Quang Trung – Nguyễn Huệ. Nhưng những huyền thoại bất diệt về người anh hùng áo vải cờ đào vẫn còn sống mãi trong niềm thương tiếc, kính yêu của nhân dân.

MỐI THÙ DUYÊN NỢ TRUYỀN KIẾP GIỮA NGUYỄN ÁNH VÀ NGUYỄN HUỆ

Đây là hai người anh hùng trên hai đầu chiến tuyến. Người này sống, ắt người kia phải chết. Họ xứng đáng là kẻ thù truyền kiếp của nhau.

Về hình thức Nguyễn Huệ Tóc quăn, da mặt sần sùi, mắt nhỏ nhưng sáng như sao, nhìn thấu màn đêm và xuyên thẳng tâm can người khác khiến không ai dám nhìn thẳng vào đôi mắt ấy. Giọng rền như tiếng chuông đồng.

Nguyễn Ánh thuộc dòng dõi trâm anh, 15 tuổi đã là tướng lĩnh vào ra sa trường. Gia tộc bị diệt vong, Nguyễn Ánh may mắn sống sót, lang thang khắp chốn, nung nấu giấc mơ phục hưng cho gia tộc. Chính thảm kịch cuộc đời đã rèn dũa nên tính cách của Nguyễn Ánh kiên trì đến cực đoan. Chẳng mấy ông Vua nào lên ngôi gian nan như Nguyễn Ánh.

Nguyễn Huệ tài cao trí lớn, ông đánh bại quân Mãn Thanh trong 6 ngày, quân Xiêm trong một buổi, nhưng vẫn luôn kiên dè Nguyễn Ánh, trước lúc qua đời cũng không khỏi nỗi lo lắng về kẻ thù mà ông luôn vị nể về tài năng.

Nguyễn Ánh vì mối nợ chín đời mà nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử quyết không từ bỏ mối hận thù.

Một lần nổi máu Nguyễn Ánh đã đốt hết chiến thuyền của Nguyễn Huệ trên Đầm Thị Nại.

Nguyễn Huệ sôi sục căm hờn quyết mở một trận tân công quy môn lớn nhất từ trước tới giờ, quyết tâm bắt cho bằng được Nguyễn Ánh. Khi Nguyễn Ánh sắp bị dồn vào cửa tử thì Nguyễn Huệ ngã khụy xuống. Tương truyền rằng ông mất trong đêm đó.

Nguyễn Huệ mất, Nguyễn Ánh loại được kẻ thù lớn nhất và tiến hành thống nhất đất nước. Nguyễn Ánh trải qua nhiều cái chết cận kề, nhưng rồi lại thoát, ông xây dựng lại cơ đồ nhà Nguyễn.

Nguyễn Huệ kém may mắn hơn vì tử thần ông đi quá sơn.

Cả Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh đều là những vị anh hùng, tinh thần thép, đưa ra những quyết định đúng lúc, dũng cảm, cơ lược hơn người, táo bạo hơn người. Chỉ tiếc rằng mệnh Trời cho họ đứng ở hai chiến tuyến khác nhau, loại bỏ lẫn nhau.

 Có thể nói Nguyễn Huệ trồng cây, Nguyễn Ánh hái quả.

“ Một Hổ với một Long vào Đại Việt Lập công

Hổ giữa đường kiệt sức nằm xuống giữa đường hừng đông

Cơn mua quét gió lồng, nhà Nguyễn trùng hưng

Ngõ Việt thông, ngõ Việt thông rồi chỉ thấy Long “

Lợi thế của Golden Life Travel không chỉ ở những chương trình tour được tối ưu từng chi tiết, nâng cấp hoàn thiện mỗi ngày, mà mỗi ngày chúng tôi thêm vào đó sự yêu thương, trách nhiệm, đảm bảo cho bạn thật sự thoải mái, tự do trải nghiệm kỳ nghỉ chất lượng, tiết kiệm thời gian, sức khỏe và tiền của bạn.

Vì kỳ nghỉ lý tưởng và hạnh phúc của bạn!

Xem thêm

DMCA.com Protection Status
Our Twitter
@dulichquynhon Nhà tổ chức du lịch Bình Định chuyên nghiệp
5 phút trước
@leo Thật tuyệt vời khi trải nghiệm du lịch Quy Nhơn cùng Golden Life Travel.
2 ngày trước
@dzung Nói đến Du lịch Quy Nhơn,hãy ghé thăm và trải nghiệm cùng Golden Life Travel.
4 ngày trước
Đăng ký nhận bản tin
1900 2659/ 0913611980

43A LÊ THÁNH TÔN, P. LÊ LỢI, QUY NHƠN, BÌNH ĐỊNH, VIỆT NAM
GoldenLifeTravel Hotline